Nghị định 66/2026/NĐ-CP quy định nhiều mức học bổng dành cho học sinh trường chuyên, trường năng khiếu, sinh viên đại học, giáo dục nghề nghiệp và một số nhóm người học thuộc diện chính sách.
Theo đó, chính sách học bổng hiện được chia thành các nhóm đáng chú ý như học bổng khuyến khích học tập và học bổng chính sách, với điều kiện và mức hưởng khác nhau tùy từng đối tượng.

Học sinh trường chuyên, trường năng khiếu được hưởng học bổng thế nào?
Theo Điều 7 Nghị định 66/2026/NĐ-CP, học sinh trường chuyên, học sinh THPT chuyên trong cơ sở giáo dục đại học và học sinh trường năng khiếu có thể được xét học bổng khuyến khích học tập nếu đáp ứng các yêu cầu về kết quả học tập, rèn luyện và thành tích thi cử.
Đối với học sinh trường chuyên, yêu cầu đáng chú ý là kết quả rèn luyện và học tập phải đạt mức cao nhất trong các mức đánh giá; đồng thời điểm trung bình môn chuyên của học kỳ xét học bổng phải từ 8,5 trở lên và đạt ít nhất giải Khuyến khích tại kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia, khu vực hoặc quốc tế thuộc diện được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định chọn cử.
Với học sinh trường năng khiếu, người học phải có kết quả rèn luyện từ mức Khá trở lên, kết quả học tập từ mức Đạt trở lên và đạt huy chương tại cuộc thi cấp quốc gia do bộ chủ quản tổ chức hoặc phối hợp tổ chức, hoặc kỳ thi khu vực, quốc tế của năm học đó.
Mức học bổng trường chuyên do địa phương quyết định
Đối với học sinh trường chuyên, trường năng khiếu, mức học bổng cho mỗi học sinh do HĐND cấp tỉnh quyết định, nhưng không được thấp hơn 3 lần mức học phí làm căn cứ thực hiện miễn học phí đối với trường THPT công lập tại địa phương.
Riêng học sinh THPT chuyên trong cơ sở giáo dục đại học, mức học bổng do hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học quyết định nhưng không thấp hơn mức học phí làm căn cứ miễn học phí của trường THPT công lập tại địa phương nơi trường đặt trụ sở.
Sinh viên loại Khá, Giỏi, Xuất sắc được hưởng học bổng ra sao?
Một điểm đáng chú ý tại Nghị định 66/2026/NĐ-CP là nhóm người học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có kết quả học tập, rèn luyện từ loại Khá trở lên và không bị kỷ luật từ mức khiển trách trở lên trong kỳ xét học bổng cũng thuộc diện được xét học bổng khuyến khích học tập. LuatVietnam cho biết đây là đối tượng được bổ sung so với quy định trước đây tại Nghị định 84/2020/NĐ-CP.
Mức học bổng được chia theo kết quả học tập và rèn luyện.
Học bổng loại Khá có mức bằng hoặc cao hơn mức trần học phí hiện hành của ngành, chuyên ngành hoặc nghề mà người học phải đóng tại trường, do hiệu trưởng quyết định. Người học phải có điểm trung bình chung học tập và điểm rèn luyện đều đạt loại Khá trở lên.
Đối với trường tư thục, mức học bổng tối thiểu do hiệu trưởng quy định. Nếu ngành, nghề đào tạo không thu học phí, mức học bổng được xác định theo đơn giá Nhà nước đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ cho nhóm ngành đào tạo tương ứng.
Học bổng loại Giỏi phải cao hơn học bổng loại Khá, do hiệu trưởng quy định. Người học phải có điểm trung bình chung học tập từ loại Giỏi trở lên và điểm rèn luyện từ loại Tốt trở lên.
Học bổng loại Xuất sắc phải cao hơn học bổng loại Giỏi và áp dụng với người học có cả điểm trung bình chung học tập và điểm rèn luyện đạt loại Xuất sắc.
Điểm trung bình chung học tập dùng để xét học bổng được tính từ kết quả thi, kiểm tra hết môn ở lần thứ nhất.

Những ai được hưởng học bổng chính sách?
Ngoài học bổng khuyến khích học tập, Điều 8 Nghị định 66/2026/NĐ-CP còn quy định học bổng chính sách đối với một số nhóm người học.
Các đối tượng được LuatVietnam nêu gồm sinh viên học theo chế độ cử tuyển; học sinh trường dự bị đại học, trường phổ thông dân tộc nội trú; học viên tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp dành cho thương binh, người khuyết tật; và một số học viên thuộc hộ nghèo.
Trong đó, học viên cơ sở giáo dục nghề nghiệp dành cho thương binh, người khuyết tật được hưởng mức học bổng bằng 80% mức lương cơ sở mỗi tháng.
Riêng học viên thuộc hộ nghèo đang học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp dành cho thương binh, người khuyết tật được hưởng mức học bổng bằng 100% mức lương cơ sở mỗi tháng.
Học bổng chính sách được chi trả 2 lần trong năm học
Theo nguồn, học bổng chính sách được chi trả 2 lần trong năm học, mỗi lần tương ứng 6 tháng.
Lần thứ nhất được cấp vào tháng 10, lần thứ hai vào tháng 3. Trường hợp người học chưa nhận được học bổng đúng thời hạn thì được truy lĩnh trong kỳ cấp tiếp theo.
Học bổng chính sách được cấp đủ 12 tháng trong một năm, nhưng tổng thời gian hưởng không được vượt quá số năm hoặc số học kỳ tối đa để hoàn thành chương trình đào tạo. Riêng năm học cuối, mức hưởng được tính theo số tháng thực học.
Đối với học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú hoặc trường dự bị đại học bị lưu ban, năm học lưu ban đầu tiên vẫn được hưởng học bổng chính sách theo quy định.
Nếu cùng lúc thuộc nhiều diện hưởng thì tính thế nào?
Theo nguyên tắc được LuatVietnam dẫn lại, nếu người học đồng thời thuộc nhiều diện được hưởng học bổng chính sách thì chỉ được hưởng một chính sách có mức cao nhất.
Trường hợp học đồng thời nhiều ngành hoặc tại nhiều cơ sở giáo dục, người học cũng chỉ được hưởng chính sách cao nhất tại một ngành, một cơ sở giáo dục.
Tuy nhiên, nếu người học vừa thuộc diện hưởng học bổng chính sách, vừa thuộc diện hưởng trợ cấp ưu đãi, trợ cấp xã hội hoặc học bổng khuyến khích học tập thì vẫn có thể được hưởng các chính sách này theo quy định.
Theo Nghị định 66/2026/NĐ-CP, học bổng chính sách không áp dụng đối với người học bằng đại học thứ hai, đào tạo theo địa chỉ, đào tạo từ xa, liên kết đào tạo và hình thức vừa làm vừa học.