
Trợ cấp thôi việc: Mỗi năm làm việc được tính nửa tháng lương
Theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có thể được hưởng trợ cấp thôi việc nếu đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên và chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp pháp luật quy định.
Các trường hợp được đề cập gồm hết hạn hợp đồng; hoàn thành công việc theo hợp đồng; hai bên thỏa thuận chấm dứt; người lao động hoặc người sử dụng lao động chấm dứt trong một số tình huống đặc biệt; người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật hoặc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật.
Mức trợ cấp được tính theo công thức: Trợ cấp thôi việc = 0,5 × tiền lương bình quân 6 tháng × số năm làm việc tính trợ cấp.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp được xác định bằng tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế, trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc trước đó.
Trợ cấp mất việc làm tối thiểu bằng 2 tháng tiền lương
Một khoản khác người lao động có thể được nhận là trợ cấp mất việc làm.
Theo Điều 47 Bộ luật Lao động 2019, khoản này áp dụng khi người lao động đã làm việc từ đủ 12 tháng trở lên và mất việc do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế hoặc trong trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hay chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
Mức trợ cấp được xác định theo: Trợ cấp mất việc làm = Thời gian làm việc tính trợ cấp × tiền lương bình quân 6 tháng.
Đáng chú ý, mức trợ cấp mất việc làm ít nhất bằng 2 tháng tiền lương.
Nếu thời gian làm việc có tháng lẻ, thời gian từ 6 tháng trở xuống được tính bằng nửa năm; trên 6 tháng được tính bằng một năm. Tiền lương làm căn cứ tính là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc.
Đủ điều kiện có thể được hưởng trợ cấp thất nghiệp
Từ năm 2026, điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp được xác định theo Điều 38 Luật Việc làm 2025.
Một trong những điều kiện quan trọng là người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng.
Riêng người làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ đủ một tháng đến dưới 12 tháng phải đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trong vòng 36 tháng trước khi nghỉ việc.
Người lao động cũng phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp trong vòng 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng và đáp ứng những điều kiện khác theo Luật Việc làm 2025.
Theo bài viết, hồ sơ được nộp tại tổ chức dịch vụ việc làm công ở địa phương nơi người lao động có nhu cầu nhận trợ cấp thất nghiệp.
Mức trợ cấp thất nghiệp tối đa hiện được nguồn dẫn từ Nghị định 374/2025/NĐ-CP xác định như sau: 26,55 triệu đồng/tháng ở vùng I; 23,65 triệu đồng ở vùng II; 20,7 triệu đồng ở vùng III và 18,5 triệu đồng ở vùng IV. Mức cụ thể còn phụ thuộc vào tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp của từng người và địa bàn áp dụng.

Được thanh toán tiền những ngày phép năm chưa nghỉ
Không chỉ các khoản trợ cấp, khi nghỉ việc, người lao động còn có thể được thanh toán tiền đối với những ngày nghỉ phép năm còn lại.
Khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 quy định, trường hợp người lao động thôi việc hoặc bị mất việc mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì doanh nghiệp phải thanh toán tiền lương cho số ngày chưa nghỉ.
Theo công thức được nguồn dẫn từ Nghị định 145/2020/NĐ-CP: Tiền phép chưa nghỉ = Tiền lương theo hợp đồng của tháng trước liền kề ÷ số ngày làm việc bình thường của tháng đó × số ngày phép chưa nghỉ.
Tiền lương chưa thanh toán vẫn phải được trả
Khoản thứ 5 là tiền lương của những ngày người lao động đã làm việc nhưng chưa được thanh toán.
Theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, khi hợp đồng lao động chấm dứt, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tài chính liên quan đến quyền lợi của người lao động theo quy định.
Do đó, việc nghỉ việc không làm mất quyền nhận tiền lương của những ngày người lao động đã thực tế làm việc nhưng chưa được doanh nghiệp chi trả.
Trợ cấp thôi việc, mất việc và thất nghiệp có phải chịu thuế TNCN?
Theo bài viết, khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật không thuộc các khoản phụ cấp, trợ cấp chịu thuế thu nhập cá nhân.
Như vậy, người lao động nghỉ việc có thể liên quan tới 5 nhóm quyền lợi tài chính, nhưng không phải ai nghỉ việc cũng mặc nhiên được nhận đủ cả 5 khoản. Việc hưởng trợ cấp thôi việc, mất việc hay thất nghiệp phải căn cứ vào lý do chấm dứt hợp đồng, thời gian làm việc, thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp và điều kiện cụ thể của từng trường hợp.